Hoá chất xử lý nước thải sản xuất lốp xe

hoá chất xử lý nước thải sản xuất lốp xe

Công ty hoá chất cơ bản Ngọc Lân chuyên cung cấp hoá chất công nghiệphoá chất xử lý nước thải sản xuất lốp xe.

Từ khi gia nhập WTO ngành công nghiệp nước ta ngày càng phát triển không ngừng nghỉ , và ngành công nghiêp được coi là nghành chủ chốt giúp nền kinh tế việt nam ngày càng phát triển trở nên bền vững

Khi nước ta gia nhập hiệp hội WTO chúng ta sẽ được hiệp hội này hỗ trợ rất nhiều về mãng kinh tế tiền bạc, đặc biệt về mặt xuất nhập khẩu các mặt hang như xe hơi, xe máy ở nước ngoài về việt nam trở nên dễ dàng hơn với giá tiền ưu đãi hơn rất nhiều.

Với một môi trường có nhiều lợi nhuận , và nhiều ưu đãi như dậy thì các nhà kinh doanh không bao giờ bỏ qua , vậy khi các nhà kinh doanh bắt đầu dồn vốn vào họ đã giúp cho nền công nghiệp xe hơi của nước ta phát triển kinh ngạc. Khi nền công nghiệp xe hơi phát triển nó cũng đã đẩy mạnh sự phát triển của một số ngành như: công nghiệp cửa kính xe , công nghiệp sơn xe , đặc biệt là ngành công nghiệp lốp xe việt nam những năm gần phát triển đến mức kinh khủng

Theo thống kê năm 2012 sản phẩm lốp xe cao su việt nam chiếm hơn 80% sản lượng cao su toàn việt nam , và nó mang lại lợi nhuận cực cao với số tiền khủng lồ là 78 triệu đô, qua đó ta thấy được tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế việt nam như thê nào.

Xong bên cạnh đó nước thải từ quá trình sản xuất lốp xe được coi là nước thải nguy hại, nếu không có phương pháp xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường sống chúng ta.

I. QUY TRÌNH SẢN XUẤT 

Xử lý nước thải sản xuất lốp xe

Quá trình sản xuất gồm các giai đoạn: 1. Trộn nguyên liệu 2. Cán tráng tạo lớp vải mành – lớp bố thép và tanh 3. Tạo lớp cao su mặt lốp – lớp lót trong 4. Ghép tạo hình lốp 5. Lưu hóa – Lốp xe 6. kiểm tra

II. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

Nước thải trong quy trình sản xuất lốp xe theo đường ống dẫn qua thanh chắn để lọc các cặn bã có trong nước thải lốp xe rồi sau đó mới vào hồ xử lý nước thải , sau khi vao hồ chứa nước thải tiếp tục được đưa qua một tấm lọc khác với để lọc các chất cặn có kích thước bé. Để ổn định hóa tính và nồng độ nước thải được hệ thống ống dẫn vào hồ điều hòa.Tác dụng của hồ điều hòa là khử không cho mùi khó chịu của nước thải bay ra ngoai và nó cũng dẹp bỏ các chất cặn còn lại. Tiếp tục nước thải cho qua 2 hồ tiếp theo là hồ tuyển nổi và hồ keo tụ để giải quyết các vấn đề về dầu và các chất lơ lững sao đó thêm các chất hỗ trợ keo tu vào thải để tao ra các bông cặn. 

hoá chất xử lý nước thải sản xuất lốp xe

Tiếp theo nước thải cho qua hồ nước khử trùng  sao khi đã kết tủa .ở đây các vi khuẩn được khử sạch.

Cuối cùng nước thải theo ống dẫn vào cột lọc áp để đảm bảo nước thải không còn chất thải hay màu sắc gì nữa .Bùn sẽ được chuyển tới khu vực chứa bùn

Vào lúc này nước thải đã được xử lý thành  công

Ưu điểm:

Hệ thống không chiếm diện tích nhiều

Kết quả xử lý đạt chuẩn

Quy trình nhanh gọn

Nhược điểm:

Khó vận hành

Nhân viên kỹ thuật phải có kinh nghiệm

 

Hãy liên hệ công ty hóa chất công nghiệp, hóa chất cơ bản Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí về quy trình và hoá chất xử lý nước thải sản xuất lốp xe.

 

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !

Hoá chất xử lý nước thải gia công cơ khí

hoá chất xử lý nước thải gia công cơ khí

Công ty hoá chất Ngọc Lân chuyên cung cấp hoá chất công nghiệp, hoá chất công nghiệp, hoá chất cơ bản, cho các khu công nghiệp trên toàn quốc.

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy các ngành công nghiệp sản xuất phát triển theo.Việc gia công của các sản phẩm cơ khí phục vụ cho quá trình sản xuất của các ngành nghề cũng tăng nhanh. Hầu hết các khu công nghiệp ở nước ta hiện nay ít nhiều đều được bố trí các máy công cụ gia công phục vụ sản xuất, bao gồm các loại máy Phay, Tiện, Bào, Mài, Khoan… Hiện nay gia công cơ khí mang một lượng nước thải với thành phần ô nhiễm tương đối khó xử lý như: dầu mỡ, chất rắn lơ lửng, kim loại và các ion kim loại… Để nước thải trong việc gia công cơ khí không còn là mối nguy hại cho môi trường, công ty chúng tôi xin đưa ra quy trình hệ thống xử lý nước thải như dưới đây nhằm xử lý hiệu quả, loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước thải để bảo vệ nguồn nước.

 

I. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải gia công cơ khí

hoá chất xử lý nước thải gia công cơ khí

II.  Thuyết minh công nghệ và hóa chất xử lý nước thải gia công cơ khí

Nước thải từ quá trình gia công theo hệ thống thu gom chảy vào bể thu gom nước thải. Phía trước bể gom chúng tôi đặt song chắn rác để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn trong nước thải. Sau đó nước thải được bơm lên bể lắng cát, cát thu được từ bể này được đưa qua bể chứa cát. Nước thải từ bể lắng cát được đưa sang bể điều hòa nhằm ổn định lưu lượng và nồng độ. Tại bể điều hòa, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu, đồng thời cũng châm hóa chất cơ bản vào đây để điều chỉnh pH trong nước thải. Sau đó, nước thải được bơm lên bể tuyển nổi để loại bỏ dầu và các chất lơ lững trong nước thải. Nước thải tiếp tục chảy từ bể tuyển nổi xuống bể keo tụ kết hợp lắng, đồng thời dùng bơm định lượng châm chất keo tư vào hòa trộn với nước thải để tạo ra các bông cặn. Ở đây các chất màu và cặn lơ lửng bị kết tủa lại còn nước thải chảy qua cột lọc áp lực để giữ lại cặn lơ lửng, và khử cả lượng màu, mùi còn lại trong nước thải. sau đó nước thải được đưa sang cột trao đổi ion. Nước thải sau khi qua cột trao đổi ion đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của nhà nước được xả ra nguồn tiếp nhận . Bùn cặn từ các bể được đưa vào bể chứa bùn, làm giảm lượng nước chứa trong bùn. Sau đó, được cơ quan chức năng xử lý theo định kỳ.

Hãy liên hệ công ty hoá chất môi trường Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí về xử lý nước thải gia công cơ khí.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ ! 

Hoá chất xử lý nước thải sửa chữa ô tô, xe máy

hoá chất xử lý nước thải ô tô xe máy

Hiện nay nhu cầu về sử dụng các phương tiện giao thông tăng đến chống mặt. Các loại phương tiện như: xe máy, ôtô…sử dụng ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, các dịch vụ sửa xe ngày càng được hình thành. Đồng thời cũng thải ra một lượng nước thải, mang theo ô nhiễm tương đối cao như: dầu nhớt, xăng, bụi bẩn, các chất hữu cơ… nên cần có hệ thống và hoá chất công nghiệp

hoá chất xử lý nước thải ô tô xe máy hoá chất xử lý nước thải ô tô xe máy

I.THÀNH PHẦN VÀ TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI

Nước thải chủ yếu phát sinh từ:

–    Quá trình sửa xe: Nước thải có dầu nhớt, xăng, bụi bẩn, các chất hữu cơ…

–    Nước thải sinh hoạt: phát sinh chủ yếu từ nhà vệ sinh và bếp ăn. Nước thải sinh hoạt có các chất hưu cơ, vi khuẩn..  gây ô nhiễm với nồng độ thấp phù hợp với biện pháp xử lý sinh học.

Khảo sát các nguồn thải nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm, từ đó đưa ra phương pháp xử lý tối ưu nhằm giảm chi phí đầu tư cho hệ thống và hóa chất xử lý nước thải sửa chữa ôtô, xe máy.
 

II.   THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

Nước thải từ quá trình rửa xe theo hệ thống thu gom chảy vào bể thu gom nước thải. Phía trước bể gom chúng tôi đặt song chắn rác để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn trong nước thải. Phía sau bể gom là lưới rác tinh để lược bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ. Nước thải từ bể gom được sang bể điều hòa nhằm ổn định lưu lượng và nồng độ. Tại bể điều hòa trong hệ thống xử lý nước thải sửa chữa ôtô, xe máy, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu. Sau đó, nước thải được bơm lên bể tuyển nổi để loại bỏ dầu và các chất lơ lững trong nước thải.

Nước thải tiếp tục chảy từ bể tuyển nổi xuống bể keo tụ kết hợp lắng, đồng thời dùng bơm định lượng châm chất keo tư vào hòa trộn với nước thải để tạo ra các bông cặn. Ở đây các chất màu và cặn lơ lửng bị kết tủa lại còn nước thải chảy qua bể khử trùng, để khử trùng các vi khuẩn có hại trong nước thải. Sau đó, nước thải chảy qua cột lọc áp lực, để giữ lại cặn lơ lửng, và khử cả lượng màu, mùi còn lại trong nước thải.

Nước thải sau khi qua cột lọc áp lực tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của nhà nước được xả ra nguồn tiếp nhận .

Bùn cặn từ các bể được đưa vào bể chứa bùn, làm giảm lượng nước chứa trong bùn. Sau đó, được cơ quan chức năng xử lý theo định kỳ.

Hãy liên hệ công ty hoá chất căn bản môi trường Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí về xử lý nước thải sửa chữa ôtô, xe máy.

Hoá chất xử lý nước thải tinh bột sắn

nồng độ ô nhiễm của nước thải ngành giặt tẩy

Có các thành phần hữu cơ như tinh bột, protein, xenluloza, pectin, đường có trong nguyên liệu củ sắn tươi là nguyên nhân gây ô nhiễm cao cho các dòng nước thải của nhà máy sản xuất tinh bột sắn. Nước thải sinh ra từ dây chuyền sản xuất tinh bột sắn có các thông số đặc trưng: pH thấp, hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ cao, thể hiện qua hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS), TSS rất cao, các chất dinh dưỡng chứa N, P, các chỉ số về nhu cầu oxy sinh học (BOD5), nhu cầu oxy hoá học (COD), …với nồng độ rất cao và trong thành phần của vỏ sắn và lõi củ sắn có chứa Cyanua (CN) một trong những chất độc hại có khả năng gây ung thư.

1. ĐẶC TRƯNG NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN

Nồng độ ô nhiễm của nước thải thể hiện cụ thể ở bảng sau.

Trong nhà máy Chế Biến Tinh Bột, thành phần nước thải sinh ra chủ yếu từ bóc vỏ, rửa củ, băm nhỏ và lắng lọc là các nguồn ô nhiễm chính. Trên cơ sở này việc lấy mẫu và phân tích thành phần nước thải được thực hiện ở hai công đoạn riêng biệt và kết hợp hai công đoạn này.

Tính chất hoá chất xử lý nước thải tinh bột sắn mang tính chất acid và có khả năng phân hủy sinh học. Đặc biệt với loại nước thải này là trong khoai mì có chứa HCN là một acid có tính độc hại. Khi ngâm khoai mì vào trong nước HCN sẽ tan vào trong nước và theo nước thải ra ngoài.

2. THUYẾT MINH QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN

Bể lắng cát:

Có nhiệm vụ loại bỏ cát, mảng kim loại,… trong nguyên liệu, trong nước thải vệ sinh nhà xưởng. Nước thải từ các khu vực sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng chảy vào bể lắng cát của trạm xử lý. Tại đây, để bảo vệ thiết bị và hệ thống đường ống công nghệ phía sau, song chắn rác thô được lắp đặt trước bể lắng cát để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải. Bể lắng cát giữ lại phần lớn các hạt cát có kích thước lớn hơn 0,2mm bao gồm những hạt cát rời và một phần cát dính trong lớp vỏ gỗ, tránh ảnh hưởng đến máy bơm và thiết bị ở các công trình sau. Trong nước thải chế biến tinh bột sắn thường có hàm lượng cát đáng kể, vì vậy trong công nghệ xử lý nước thải cần thiết phải có bể lắng cát. Nước thải sau khi qua bể lắng cát sẽ tự chảy vào hầm tiếp nhận.

Nước thải trước khi đến bể điều hòa sẽ qua lưới chắn rác tinh. Lưới chắn rác tinh có nhiệm vụ loại bỏ các sơ sợi sắn, lớp váng bọt nổi và rác có kích thước nhỏ hơn 10mm.

Bể điều hòa:

Sự dao động nồng độ và lưu lượng nước thải sẽ ảnh hưởng đến chế độ công tác của mạng lưới và các công trình xử lý, đặc biệt quan trọng với các công trình hóa lý, sinh học với việc làm ổn dịnh nồng độ nước thải sẽ giúp giảm nhẹ kích thước công trình xử lý hóa lý, đơn giản hóa công nghệ xử lý và tăng hiệu quả xử lý nước thải ở các công trình xử lý. Tại bể  điều hoà nhờ quá trình khuấy trộn và cấp khí giúp ổn định lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm như: BOD5, COD, pH, CN…tại đây nước thải được bơm sang bể phản ứng.

Bể trung hòa:

Nước thải ở công nghệ chế biến tinh bột sắn đều có pH thấp, ở các công đoạn do quá trình lên men axit tinh bột. Do đó, trước khi tiến hành xử lý sinh học (yêu cầu pH từ 6.5 – 8.5) hay quá trình hóa lý thường yêu cầu pH trung tính cần tiến hành trung hòa để tạo điều kiện thích hợp cho vi sinh phát triển tốt.

Bể phản ứng:

Hóa chất keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng bơm định lượng hóa chất. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, hóa chất keo tụ được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải, hình thành các bông cặn nhỏ li ti khắp diện tích bể.

Bể keo tụ tạo bông:

Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông. Dưới tác dụng của chất trợ keo tụ và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm, các bông cặn li ti sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước và bông cặn ở bể keo tụ tạo bông tự chảy sang bể lắng.

Bể lắng 1:

Bể lắng có chức năng loại bỏ các chất lắng được mà các chất này có thể gây ra hiện tượng bùn lắng trong nguồn tiếp nhận, tách dầu mỡ và các chất nổi khác, giảm tải trọng hữu cơ cho các công trình xử lý phía sau. Phần bùn trong nước thải được giữ lại ở đáy bể lắng. Lượng bùn này được bơm qua bể chứa bùn.

Bể UASB:

Phần nước sau khi tách bùn được bơm bể phản ứng kỵ khí UASB, bên cạnh việc phân huỷ  phần lớn các chất hữu cơ thì CN cũng được phân huỷ đáng kể tại đây, nhằm giảm đến mức thấp nhất nồng độ CN trước khi dẫn vào bể lọc sinh học. Bể UASB thường được áp dụng xử lý nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao như nước thải ngành tinh bột sắn. Nước thải được nạp từ phía đáy bể, đi qua lớp bùn hạt, quá trình xử lý nước thải xảy ra khi các chất hữu cơ tiếp xúc với bùn hạt. Đặc tính quan trọng nhất của bùn từ bể UASB là vận tốc lắng của bùn khá cao, nhờ đó có thể vận hành thiết bị kỵ khí với vận tốc ngược dòng từ dưới lên cao. Khi vận hành ở giai đoạn đầu tải trọng chất hữu cơ không được quá cao vì vi sinh vật acid hóa sẽ tạo acid béo dễ bay hơi với vận tốc nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc của các acid này thành acetate dưới tác dụng của vi khuẩn acetate làm giảm pH môi trường, ức chế vi khuẩn methane hóa. Tải trọng hữu cơ có thể tăng dần khi vi khuẩn thích nghi. Vì vậy, với hệ thống UASB tải trọng chất hữu cơ có thể đạt cao trong giai đoạn hoạt động ổn định. Bùn từ bể lắng 1 và bùn dư từ bể UASB sẽ được dẫn đến sân phơi bùn, nhằm giảm độ ẩm và khối lượng bùn để dễ dàng vận chuyển ra bãi thải.

Bể lọc sinh học:

Màng sinh học hiếu khí là một hệ VSV tuỳ tiện, ở ngoài cùng của màng là lớp vi khuẩn hiếu khí, lớp sâu bên trong màng là các vi khuẩn kỵ khí. Phần cuối cùng của màng là các động vật nguyên sinh và một số các vi khuẩn khác. Vi sinh trong màng sinh học sẽ oxy hoá các chất hữu cơ, sử dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng. Chất hữu cơ được tách ra khỏi nước, còn khối lượng của màng sinh học tăng lên. Màng vi sinh chết sẽ được cuốn trôi theo nước ra khỏi bể lọc sinh học. Để duy trì điều kiện hiếu khí hay kỵ khí trong bể phụ thuộc vào lượng oxy cấp vào. Nhưng thực tế trong bể luôn tồn tại 3 quá trình hiếu, thiếu và kỵ khí. Do đó hiệu quả khử nitơ và photpho của bể lọc tương đối cao.

Tiếp đó, nước thải sẽ được dẫn đến cụm 5 hồ sinh học, phần CN-. nitơ, photpho, BOD5, COD, SS còn lại sẽ được khử tại các hồ sinh học. Nước thải sau khi qua hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 24:2009, loại B sẽ thải ra nguồn tiếp nhận.

3. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN

quy-trinh-cong-nghe-xu-ly-nuoc-thai-tinh-bot-san

4.   ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TINH BỘT SẮN

a.      Ưu điểm:

·        Công nghệ đề xuất phù hợp với đặc điểm, tính chất của nguồn nước thải;

·        Nồng độ các chất ô nhiễm sau quy trình xử lý đạt quy chuẩn hiện hành;

·        Diện tích đất sử dụng tối thiểu.

·        Công trình thiết kế dạng modul, dễ mở rộng, nâng công suất xử lý.

·        Không cần sử dụng nhiều hoá chất

b.      Nhược điểm:

·        Nhân viên vận hành cần được đào tạo về chuyên môn;

·        Chất lượng nước thải sau xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình đơn vị trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật;

·        Bùn sau quá trình xử lý cần được thu gom và xử lý định kỳ.

Công ty chúng tôi nghiên cứu đưa ra những phương pháp xử lý nước thải tinh bột sắn triệt để, nước thải đầu ra đạt quy chuẩn hiện hành với các công nghệ tiên tiến, chi phí vận hành đầu tư ban đầu thấp, vận hành đơn giản và còn bán hóa chất công nghiệp

Hãy liên hệ công ty hoá chất cơ bản Ngọc Lân để được tư vấn, cải tạo, thiết kế (chúng tôi có nhận vận hành trọn gói với giá rẻ) để hệ thống Xử lý nước thải tinh bột sắn có tính bền vững, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và đạt hiểu quả cao trong công việc.

 

 

Hoá hất xử lý nước thải phòng khám

hóa chất xử lý nước thải phòng khám

I.  Tính chất:

Các phòng khám đa khoa mọc lên ngày càng nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân. Một điều tất yếu, các phòng khám sẽ phát sinh một lượng nước thải y tế cần phải xử lý theo quy định của nhà nước. Các chất phát sinh gây ô nhiễm trong phòng khám như  máu, dịch cơ thể, giặt quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn mền cho các giường bệnh, súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẩu, sản nhi, vệ sinh, lau chùi làm sạch các phòng bệnh,…nên cần xử lý nước thải phòng khám đa khoa.
–     Đây là loại nước thải có chứa nhiều chất hữu cơ và các vi trùng gây bệnh.
–     Nồng độ BOD5, COD trong nước thải không cao, rất thích hợp cho quá trình xử lý sinh học.

Bảng 1.1:Thông số đặc trưng nước thải phòng khám đầu vào và sau xử lý

 

II.Công nghệ xử lý nước thải phóng khám đa khoa

                    1. Sơ đồ công nghệ

hóa chất xử lý nước thải phòng khám

2. Ưu điểm của công nghệ xử lý nước thải phòng khám đa khoa

·           Đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của pháp luật;

·          Xử lý các chất dinh dưỡng (nito, phospho) trong nước thải. Đây là đặc điểm nổi bật so với các công nghệ khác. Các công nghệ khác thường không đạt các chỉ tiêu này;

·          Đây là công nghệ thân thiện với môi trường, không dùng hóa chất trong quá trình xử lý;

·           Thời gian thi công, lắp đặt ngắn;

·          Chi phí vận hành và bảo trì thấp, hiệu quả xử lý ổn định.

·          Yêu cầu về không gian nhỏ hơn các thiết bị xử lý nước thải truyền thống.

·          Tiết kiệm diện tích sử dụng;

·          Chi phí vận hành, bảo trì bảo dưỡng thấp;

·          Hòa hợp với các công trình hiện hữu;

          3. Nhược điểm của phương án cải tạo

·        Nhân viên vận hành cần được đào tạo về vận hành trạm xử lý nước thải ứng dụng công nghệ vi sinh và công nghệ khử trùng không dùng hóa chất;

·        Chất lượng nước thải sau xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình đơn vị trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật;

      4. Thuyết minh công nghệ, hoá chất xử lý nước thải phòng khám đa khoa

Nước thải từ các nguồn chảy vào bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu. Bể điều hòa có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào trạm xử lý.

Sau đó, nước thải được dẫn qua cụm bể anoxic và aerotank. Bể anoxic kết hợp aerotank được lựa chọn để xử lý tổng hợp: khử BOD, nitrat hóa, khử NH4+ và khử NO3–  thành N2, khử Phospho. Với việc lựa chọn bể bùn hoạt tính xử lý kết hợp đan xen giữa quá trình xử lý thiếu khí, hiếu khí sẽ tận dụng được lượng cacbon khi khử BOD, do đó không phải cấp thêm lượng cacbon từ ngoài vào khi cần khử NO3, tiết kiệm được 50% lượng oxy khi nitrat hóa khử NH4+ do tận dụng được lượng oxy từ quá trình khử NO3.

Nồng độ bùn hoạt tính trong bể dao động từ 1.000-3.000 mg MLSS/L. Nồng độ bùn hoạt tính càng cao, tải trọng hữu cơ áp dụng của bể càng lớn. Oxy (không khí) được cấp vào bể aerotank bằng các máy thổi khí (airblower) và hệ thống phân phối khí có hiệu quả cao với kích thước bọt khí nhỏ hơn 10 µm. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: (1) cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí chuyển hóa chất hữu cơ hòa tan thành nước và carbonic, nitơ hữu cơ và ammonia thành nitrat NO3-, (2) xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý, (3) giải phóng các khí ức chế quá trình sống của vi sinh vật, Các khí này sinh ra trong quá trình vi sinh vật phân giải các chất ô nhiễm, (4) tác động tích cực đến quá trình sinh sản của vi sinh vật. Tải trọng chất hữu cơ của bể trong giai đoạn xử lý aerotank dao động từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Các quá trình sinh hóa trong bể hiếu khí hệ thống xử lý nước thải phòng khám đa khoa được thể hiện trong các phương trình sau:

Phương trình trên cho thấy rằng mỗi một (01)g nitơ ammonia (N-NH3) được chuyển hóa sẽ sử dụng 3,96g oxy O2, và có 0,31g tế bào mới (C5H7O2N) được hình thành, 7,01g kiềm CaCO3 được tách ra và 0,16g carbon vô cơ được sử dụng để tạo thành tế bào mới.

Trong hệ thống xử lý nước thải phòng khám đa khoa, quá trình khử nitơ (denitrification) từ nitrate NO3 thành nitơ dạng khí N2 đảm bảo nồng độ nitơ trong nước đầu ra đạt tiêu chuẩn môi trường. Quá trình sinh học khử Nitơ liên quan đến quá trình oxy hóa sinh học của nhiều cơ chất hữu cơ trong nước thải sử dụng Nitrate hoặc nitrite như chất nhận điện tử thay vì dùng oxy. Trong điều kiện không có DO hoặc dưới nồng độ DO giới hạn ≤ 2 mg O2/L (điều kiện thiếu khí)

            C10H19O3N + 10NO3 ®  5N2 + 10CO2 + 3H2O + NH3 + 100H+

Quá trình chuyển hóa này được thực hiện bởi vi khuẩn khử nitrate chiếm khoảng 10-80% khối lượng vi khuẩn (bùn). Tốc độ khử nitơ đặc biệt dao động 0,04 đến 0,42 g  N-NO3/g MLVSS.ngày, tỉ lệ F/M càng cao tốc độ khử tơ càng lớn.

Nước sau khi qua cụm bể anoxic và aerotank tự chảy vào bể lắng. Bùn được giữ lại ở đáy bể lắng. Một phần được tuần hoàn lại bể aerotank, một phần được đưa đến bể chứa bùn. Nước được đưa qua khử trùng bằng hóa chất.

Nước được bơm từ khử trùng qua lọc thô, lọc tinh và lọc UF.

Nước sau khi qua lọc UF đạt yêu cầu xả thải theo quy định hiện hành của pháp luật và thải ra nguồn tiếp nhận.

III. Thiết Bị – Vật Tư – Hệ Thống Điện Công Trình Xử Lý Nước Thải Phòng Khám

                 1. Thiết bị động lực

·           Thiết bị chính sử dụng trong công trình được tính toán an toàn về công suất, số lượng thiết bị dự phòng;

·           Các thiết bị chính như máy bơm, máy thổi khí,… có xuất xứ từ các nước tiên tiến trên thế giới;

·           Thiết bị được lựa chọn trong công nghệ có thể chịu được tính ăn mòn cao khi pH thay đổi trong khoảng rộng (từ 4 – 10), hoạt động ổn định trong môi trường nước thải, phù hợp với điều kiện môi trường Việt Nam.

                  2. Vật tư lắp đặt cho công trình

·           Vật tư lựa chọn lắp đặt có thể chịu được tính ăn mòn cao khi pH thay đổi từ 4–10, bền trong môi trường nước thải;

·           Vật tư sử dụng đảm bảo theo các quy chuẩn, TCVN, có sẵn trên thị trường, thuận tiện trong quá trình bảo trì sửa chữa hay thay thế.

                  3. Hệ thống điện điều khiển trạm xử lý nước thải phòng khám đa khoa

·           Nguồn điện cung cấp cho các bơm, máy thổi khí… và cho toàn tủ điện được tính toán phù hợp với nhu cầu sử dụng của hệ thống;

·           Các thiết bị như bơm, máy thổi khí,… được vận hành ở 3 chế độ: tự động (Auto),  tay (Manual) và không hoạt động (Off).

                   4. Nhân công lắp đặt thiết bị- đường ống- hệ thống điện

·           Các vật tư, thiết bị lắp đặt ở công đều có kỹ sư giám sát, chỉ đạo và đội ngũ nhân công (thợ cơ khí, thợ điện, thợ môi trường) lành nghề, có nhiều kinh nghiệm, chuyên lắp đặt thiết bị môi trường;

·           Thiết bị vật tư được lắp đặt đúng theo tiêu chuẩn và quy chuẩn quy định, đúng kỹ thuật, đúng theo thiết kế được chủ đầu tư phê duyệt, đảm bảo trạm xử lý hoạt động ổn định và không bị hao mòn tuổi thọ thiết bị;

·           Thực hiện các công việc cơ khí (lắp đặt các máy móc thiết bị, hàn và gia cố hệ thống  đường ống…), lắp đặt hệ thống điện điều khiển (đi đường dây điện, lắp tủ điện điều khiển…).

                      5. Cung cấp – nuôi cấy – vận hành hệ thống

·           Cung cấp bùn vi sinh đúng chủng loại cho Trạm xử lý nước thải phòng khám đa khoa;

·           Cung cấp chủng vi sinh vật đặt chủng xử lý nước thải (xuất xứ từ Mỹ);

·           Bổ sung dưỡng chất định kỳ để vi sinh vật phát triển tốt (trong trường hợp nước thải thiếu dinh dưỡng);

·           Nhân viên vận hành có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn cao, được trang bị đầy đủ các dụng cụ kiểm tra mẫu nước thải trong quá trình vận hành;

·           Lấy mẫu thường xuyên để phân tích các chỉ tiêu: pH, COD, BOD, TSS, Nitơ tổng, Photpho tổng, Coliform. Trên cơ sở kết quả phân tích, nhân viên vận hành đưa ra nhận xét, đánh giá và điều chỉnh các thông số kỹ thuật để cho khả năng phát triển của vi sinh vật và chất lượng nước thải đầu ra là tốt nhất.

               Phòng Khám Bộ Công Thương là công trình tiêu biểu của công ty hóa chất cơ bản Ngọc Lân về xử lý nước thải phòng khám đa khoa.

Hoá chất xử lý nước thải dệt nhuộm

hóa chất dệt nhuộm

 Hoá chất xử lý nước thải dệt nhuộm:

I. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là chủ đề tập trung sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới.
Một trong những vấn đề đặt ra cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam là cải thiện môi trường ô nhiễm từ các chất độc hại do nền công nghiệp tạo ra. Điển hình như các ngành công nghiệp cao su, hóa chất, công nghiệp thực phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, y dược, luyện kim, xi mạ, giấy, đặc biệt là ngành dệt nhuộm đang phát triển mạnh mẽ và chiếm kim ngạch xuất khẩu cao của Việt Nam.
Ngành dệt nhuộm đã phát triển từ rất lâu trên thế giới nhưng nó chỉ mới hình thành và phát triển hơn 100 năm nay ở nước ta. Trong những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới mở cửa ở Việt Nam đã có 72 doanh nghiệp nhà nước, 40 doanh nghiệp tư nhân, 40 dự án liên doanh và 100% vốn đầu tư nước ngoài cùng các tổ hợp đang hoạt động trong lĩnh vực dệt nhuộm. Ngành dệt may thu hút nhiều lao động góp phần giải quyết việc làm và phù hợp với những nước đang phát triển không có nền công nghiệp nặng phát triển mạnh như nước ta. Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy xí nghiệp dệt nhuộm ở ta đều chưa có hệ thống xử  lý nước thải mà đang có xu hướng thải trực tiếp ra sông, suối, ao, hồ… loại nước thải này có độ kiềm cao, độ màu lớn, nhiều hóa chất độc hại đối với loài thủy sinh.

 

1.2. Mục tiêu xử lý

Thiết kế hệ thống xử lý nước thải công suất 1.500m3/ngày.đêm công ty… xác định các nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm của công ty. Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhằm giảm thiểu tác hại đến môi trường .Yêu cầu là khi nước thải ra theo tiêu chuẩn QUY CHUẨN QCVN 13:2008/BTNMT.

1.3. Phương pháp thực hiện

a. Điều tra khảo sát thu thập số liệu tài liệu liên quan, quan sát trực tiếp, lấy mẫu đo đạc và phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước thải trước và sau xử lý, đánh giá tác động môi trường của nguồn thải.
b. Phương pháp kế thừa, tham khảo kết quả xử lý của các công ty trên thực tế.
c. Tham khảo kết quả của mô hình xử lý trong phòng thí nghiệm.
d. Tính toán thiết kế theo những chuẩn mực đã quy định.
Từ những số liệu đo đạc tính chất nước và yêu cầu đầu ra của nguồn thải, ta có phương pháp xử lý gồm 3 giai đoạn:
– Giai đoạn 1: Xử lý bằng phương pháp cơ học và hóa học – keo tụ, tạo bông, lắng cặn.
– Giai đoạn 2: Xử lý bằng phương pháp sinh học MBBR.
– Giai đoạn 3: Xử lý tăng cường, cho nước thải qua bồn lọc áp lực, khử màu để xử lý triệt để độ màu của nước, đảm bảo tiêu chuẩn dầu ra và khử trùng nước thải trước khi thải vào hệ thống thoát nước.

II. TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ XLNT DỆT NHUỘM

2.1. Đặc điểm về ngành dệt nhuộm

Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành công nghiệp dệt nhuộm cũng có nhiều thay đổi, bên cạnh những nhà máy xí nghiệp quốc doanh, ngày càng có nhiều  xí nghiệp mới ra đời. Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các nhà máy đều nhập thiết bị, hoá chất từ nhiều nước khác nhau :
– Thiết bị : Mỹ, Đức, Nhật, Ba Lan, Ấn Độ, Đài Loan, …
– Thuốc nhuộm : Nhật, Đức, Thụy Sĩ, Anh, …
Hóa chất cơ bản : Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam, …

 

Với khối lượng lớn hóa chất sử dụng, nước thải ngành dệt nhuộm có mức ô nhiễm cao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây khi nền kinh tế phát triển mạnh đã xuất hiện nhiều nhà máy, xí nghiệp với công nghệ hiện đại ít gây ô nhiễm môi trường.

2.2. Công nghệ sản xuất – công nghệ XLNT dệt nhuộm

a. Các loại nguyên liệu của ngành dệt nhuộm:

Nguyên liệu cho các ngành dệt nhuộm chủ yếu là các loại sợi tự nhiên (sợi Cotton), sợi tổng hợp (sợi Poly Ester) và sợi pha, trong đó:
– Sợi  Cotton (Co): được kéo từ sợi bông vải có đặc tính hút ẩm cao, xốp, bền trong môi trường kiềm, phân hủy trong môi trường axít. Vải dệt từ loại sợi này thích hợp cho khí hậu nóng mùa hè. Tuy nhiên sợi còn lẫn nhiều sợi tạp chất như sáp, mày lông và dễ nhăn.
– Sợi tổng hợp (PE): là sợi hóa học dạng cao phân tử được tạo thành từ quá trình tổng hợp chất hữu cơ. Nó có đặc tính là hút ẩm kém, cứng, bền ở trạng thái ướt.
– Sợi pha (sợi Poly ester kết hợp với sợi cotton): sợi pha này khi tạo thành sẽ khắc phục được những nhược điểm của sợi tổng hợp và sợi tự nhiên.

b. Quy trình công nghệ XLNT dệt nhuộm tổng quát:

 Chuẩn bị nguyên liệu:
· Làm sạch nguyên liệu:
Nguyên liệu thường được đóng dưới dạng các kiện bông thô, chứa các sợi bông có các kích thước khác nhau cùng với các tạp chất tự nhiên như: bụi, đất,… Nguyên liệu bông thô được đánh tung, làm sạch và trộn đều. Sau quá trình làm sạch bông tồn tại dưới dạng các tấm bông phẳng đều.
· Chải:
Các bông sợi được chải song song tạo thành sợi thô.
· Kéo sợi thành ống, mắc sợi:
Kéo sợi thô để giảm kích thước sợi, tăng độ bền, quấn sợi vào các ống sợi thích hợp cho việc dệt vải sợi con trong các ống nhỏ được đánh ống thành các quả to để chuẩn bị dệt vải. Mắc sợi là dồn các quả ống để chuẩn bị cho công đoạn hồ sợi.
· Hồ sợi:
Hồ sợi bằng hồ tinh bột và hồ biến tính để tạo màng hồ bao quanh sợi, tăng độ bền, độ trơn và độ bóng của sợi để có thể tiến hành dệt vải. Ngoài ra còn dùng các loại hồ nhân tạo như: polyvinlalol (PVA), polyacrylat,…
Chuẩn bị nhuộm :- công nghệ XLNT dệt nhuộm
Đây là công đoạn tiền xử lý và quyết định các quá trình nhuộm về sau. Vải mộc được tiền xử lý tốt mới đảm bảo được độ trắng cần thiết, đảm bảo cho thuốc nhuộm bám đều lên mặt vải và giữ được độ bền trên đó. Các công đoạn chuẩn bị nhuộm bao gồm: đốt lông, giũ hồ, mấu tẩy,…
· Rũ hồ:
Các loại vải mộc xuất ra khỏi phân xưởng dệt mang nhiều tạp chất thiên nhiên của sợi bông, vải còn mang nhiều bụi, dầu mỡ, lượng hồ đáng kể trong quá trình dệt. Do đó, mục đích của rũ hồ là dùng một số hóa chất hủy bỏ lớp hồ này. Người ta thường dùng axit loãng như: axit sunfuric 0.5, bazo loãng, men vi sinh vật, muối, các chất ngấm. Vải sau khi rũ hồ được giặt bằng nước, xà phòng, chất ngấm rồi đưa sang nấu tẩy.
· Nấu vải:
Mục đích của nấu vải là loại trừ phần hồ còn lại và các tạp chất thiên nhiên của xơ sợi như: dầu, mỡ sáp,…Sau khi nấu vải có độ mao dẫn và khả năng thấm ướt cao, hấp thụ hóa chất-thuốc nhuộm cao hơn, vải mềm mại và đẹp hơn. Vải được nấu trong dung dịch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất cao (2-3 at) và nhiệt độ cao (120-1300C).
· Tẩy trắng:
Công đoạn này dùng để tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch các chất bẩn, làm cho vải có độ trắng theo yêu cầu. Các hóa chất thường sử dụng: Natriclorit (NaClO2), natri hypoclric (NaClO),… và các chất phụ trợ như: Na2SiO¬3, Slovapon N.
 Công đoạn nhuộm: công nghệ XLNT dệt nhuộm
Mục đích là tạo ra những màu sắc khác nhau của vải. Để nhuộm vải được người ta sử dụng chủ yếu các loại thuốc nhuộm tổng hợp cùng với các chất trợ nhuộm để tạo sự gắn màu của vải. Phần thuốc nhuộm như không gắn vào vải mà theo dòng nước thải đi ra, phần thuốc thải này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ, loại vải, độ màu yêu cầu,…
· Pigment:
Là một số thuốc nhuộm hữu cơ không hòa tan và một số chất vô cơ có màu như các bôxit và muối kim loại. Thông thường pigment được dùng trong in hoa.
· Thuốc nhuộm Azo:
Loại thuốc nhuộm này hiện nay đang được sản xuất rất nhiều, chiếm trên 50% lượng thuốc nhuộm.
Đây là loại thuốc nhuộm có chứa một hay nhiều nhóm Azo: -N= N-, nó có các loại sau:
– Thuốc nhuộm phân tán: là những hợp chất màu, không tan trong nước nên thường nhuộm cho loại sợi tổng hợp ghét nước.
– Thuốc nhuộm  hoàn nguyên: là những hợp chất màu hữu cơ không tan trong nước,có dạng R=C=O. Khi bị khử sẽ tan mạnh trong kiềm và hấp thụ mạnh vào sợi, loại thuốc này cũng dễ bị thủy phân và oxy hóa về dạng không tan ban đầu.
– Thuốc nhuộm bazơ: là những hợp chất mày có cấu tạo khác nhau, hầu hết là các muối clorua, oxalate hoặc muối kép của các bazơ hữu cơ. Khi axit hòa tan, chúng phân ly thành các cation mang màu và anion không mang màu.
– Thuốc nhuộm axit: khi hòa tan trong nước, bắt màu vào xơ trong môi trường axit. Thuốc này thường dùng để nhuộm len và nhuộm trực tiếp (là những hợp chất màu hòa tan trong nước, có khả năng tự bắt mày vào xơ xenlulôz nhờ các lực hấp phụ trong môi trường trung tính hoặc kiềm).
– Thuốc nhuộm hoạt tính: là những hợp chất màu mà trong phân tử có chứa các nhóm nguyên tử có thể thực hiện các mối liên kết hóa trị với xơ.
– Thuốc nhuộm hoạt tính: là những hợp chất màu mà trong phân tử có chứa các nhóm nguyên tử có thể thực hiện các mối liên kết hoá trị với xơ.
· Thuốc nhuộm lưu huỳnh:
Là những hợp chất màu không tan trong nước và một số dung môi hữu cơ nhưng tan trong môi trường kiềm. Chúng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp dệt để nhuộm vải từ xơ xenlulo, không nhuộm được len và tơ tằm vì dung dịch nhuộm có tính kiềm mạnh.
· Chất tẩy trắng quang học:
Là những hợp chất hữu cơ trung tính, không màu hoặc có màu vàng nhạt, có ái lực với xơ. Đặc điểm của chúng là khi nằm trên xơ sợi, chúng có khả năng hấp thụ một số tia trong miền tử ngoại của quang phổ và phản xạ tia xanh lam và tia tím.
Một số tên gọi tương ứng của các thuốc nhuộm đang dùng trong thực tế ở nước ta và trên thế giới như bảng 2.2.
· Phạm vi sử dụng thuốc – công nghệ XLNT dệt nhuộm:
Thuốc nhuộm trong dịch nhuộm có thể ở dạng hòa tan hay phân tán, và mỗi loại thuốc nhuộm khác nhau sẽ thích hợp cho từng loại vải khác nhau. Để nhuộm vải từ những nguyên liệu ưa nước, người ta dùng thuốc nhuộm hòa tan trong nước. Các loại thuốc nhuộm này sẽ khuếch tán và gắn màng vào xơ sợi nhờ các lực liên kết hóa lý (thuốc nhuộm trực tiếp), liên kết ion (thuốc nhuộm axit, bazơ), liên kết đồng hóa trị (thuốc nhuộm hoạt tính). Còn để nhuộm vải từ những nguyên liệu sợi kỵ nước như sợi tổng hợp thì người ta thường dùng thuốc nhuộm không tan trong nước (thuốc nhuộm phân tán).
Đối với các loại vải dệt từ sợi pha thì có thể chia làm hai lần, mỗi lần nhuộm một thành phần hay nhuộm một lần cho cả hai thành phần.
· Mức độ gắn màu của các loại thuốc nhuộm
Khi nhuộm vải thì quá trình nhuộm vải xảy ra theo 4 bước:
– Di chuyển các phân tử thuốc nhuộm đến bề mặt sợi;
– Gắn màu vào bề mặt sợi;
– Khuếch tán màu vào bề mặt sợi, quá trình này xảy ra chậm hơn so với quá trình trên;
– Cố định màu vào sợi.
Để tăng hiệu quả quá trình nhuộm, các hóa chất sử dụng để phụ trợ cho quá trình nhuộm như các loại axít H2SO4, CH3COOH, các muối Natri sulfat, muối Amôni, các chất cầm màu như Syntephix, Tinofix.
Công đoạn in hoa: công nghệ XLNT dệt nhuộm
In hoa tạo ra các văn hoa có một hay nhiều màu trên nền vải trắng hoặc vải màu bằng hồ in.
Hồ in là một loại hỗn hợp các loại thuốc nhuộm ở dạng hòa tan hay pigment dung môi. Các loại thuốc nhuộm dùng cho in hoa như pigment, hoạt tính, hoàn nguyên, azo không tan và indigozol. Hồ in có nhiều loại như hồ tinh bột, dextrin, hồ liganit natri, hồ nhũ tương hay hồ nhũ hóa tổng hợp.
· Hồ tinh bột:
– Tinh bột: 199 g
– Nước: 987 g
– HCl 28%: 1.5 g
– CH3COONa:1.5g
+ Hồ dextrin:
– British gum D: 500g
– Nước: 500g
Hồ dextrin được dùng để in thuốc nhuộm hoàn nguyên và in phá gắn màu.
· Hồ nhũ tương:
– Chất nhũ tương dispersal PR 8 – 15g
– Nước: 185 – 192g
Khuấy đều để nguội, trong lúc khuấy tốc độ cao cho thêm vào xăng công nghệ hay dầu khác 800g, tiếp tục khuấy cho đến khi hồ đồng nhất.
 Công đoạn sau in hoa: công nghệ XLNT dệt nhuộm
· Cao ôn:
Sau khi in, vải được cao ôn để cầm màu:
– Thuốc hoạt tính:1500C trong 5 phút;
– Thuốc pigment: 1400C – 1500C trong 3 phút;
– Thuốc nhuộm phân tán: 2150C.
· Giặt:
Sau khi nhuộm và in vải được giặt nóng và lạnh nhiều lần để loại bỏ tạp chất hay thuốc nhuộm, in dư trên vải.
– Đối với thốc nhuộm hoạt tính: 4 lần
– Đối với thuốc nhuộm pigment: 2 lần
– Đối với thuốc nhuộm phân tán: 2 lần
 Công đoạn văng khổ hoàn tất:
Văng khổ hay hoàn tất vải với mục đích ổn định kích thước vải, chống nhàu và ổn định nhiệt, trong đó sử dụng một số hóa chất chống nhàu, chất làm mềm và hóa chất như mêtylit, axít axetic, formaldehyt,…
Ngoài công nghệ xử lý cơ học , người ta còn kết hợp với việc xử lý hóa học .
· Mặt hàng in bông 100% cotton:
– Finish KVS 40g/l: chống nhàu và nhăn vải.
– Ceramine HCL 10g/l: làm mềm vải.
– Slovapon N 0.1g/l: tăng khả năng thấm hóa chất.
+ Mặt hàng in bông PE/Co:
– Polysol S5 1g/l: chống nhàu và nhăn vải.
– Repellan 77 10g/l: làm mềm vải sợi PE.
– Softener NN 5g/l: làm mềm vải sợi Co.
– Slovapon N 0.1g/l: tăng khả năng thấm hóa chất.
 + Mặt hàng nhuộm 100% cotton:
– Finish PU 20g/l.
– Calalyst PU 1g/l.
· Mặt hàng nhuộm PE/Co:
– Hồ mềm: giống như bông PE/Co.
– Repellan HYN 40g/l: chất béo để tạo savon, làm mềm vải.
–  Al2(S04)3 2g/l: muối làm tác nhân savon hóa.
· Mặt hàng in bông có diện tích ăn mòn nhỏ cần tăng độ trắng:
– Leucophor BRB 2g/l: chất hoạt quang.
– Cibaoron BBlue 0.02g/l: màu hoạt tính.

2.3. Đặc điểm nước thải – công nghệ XLNT dệt nhuộm

a. Nguồn gốc phát sinh nước thải:

Các tạp chất tách ra từ vải sợi như: dầu mỡ, các tạp chất chứa Nitơ, các chất bụi bẩn dính vào sợi (chiếm 6% khối lượng xơ).
Hóa chất sử dụng: hồ tinh bột, H2SO4, CH3COOH, NaOH, NaOCl, H2O2, Na2CO3, Na2SO3,…các loại thuốc nhuộm, các chất trơ, chất ngấm, chất cầm màu, chất tẩy giặt.
Thành phần nước thải phụ thuộc vào: đặc tính của vật liệu nhuộm, bản chất của thuốc nhuộm, các chất phụ trợ và các hóa chất khác được sử dụng. Nguồn nước thải bao gồm từ các công đoạn chuẩn bị sợi, chuẩn bị vải, nhuộm và hoàn tất.
Các loại thuốc nhuộm được đặc biệt quan tâm vì chúng thường là nguồn sinh ra các kim loại, muối và màu trong nước thải. Các chất hồ vải với lượng BOD, COD cao và các chất hoạt động bề mặt là nguyên nhân chính gây ra tính độc cho thuỷ sinh của nước thải dệt nhuộm.

b. Thành phần tính chất nước thải – công nghệ XLNT dệt nhuộm:

thành phần nước thải dệt nhuộm

 Tính chất nước thải giữ vai trò quan trọng trong thiết kế, vận hành hệ thống xử lý và quản lý chất lượng môi trường. Sự dao động về lưu lượng và tính chất nước thải quyết định tải trọng thiết kế cho các công trình đơn vị.
Nước thải dệt nhuộm sẽ khác nhau khi sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau. Chẳng hạn như len và cotton thô sẽ thải ra chất bẩn tự nhiên của sợi. Nước thải này có độ màu, độ kiềm, BOD và chất lơ lửng (SS) cao. Ở loại nguyên liệu sợi tổng hợp, nguồn gây ô nhiễm chính là hóa học do các loại hóa chất sử dụng trong giai đoạn tẩy và nhuộm.
Công nghệ XLNT dệt nhuộm: nước thải  nhìn chung rất phức tạp và đa dạng, đã có hàng trăm loại hóa chất đặc trưng như phẩm nhuộm, chất hoạt động bề mặt, chất điện ly, chất tạo môi trường, tinh bột men, chất oxy hóa,…được đưa vào sử dụng. Trong quá trình sản xuất, lượng nước thải ra 12-300 m3/tấn vải, chủ yếu từ công đoạn nhuộm và nấu tẩy. Nước thải dệt nhuộm ô nhiễm nặng trong môi trường sống như độ màu, pH, chất lơ lửng, BOD, COD, nhiệt độ đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép xả vào nguồn tiếp nhận .
Nước thải gây ô nhiễm cho nguồn xả chủ yếu do độ đục, độ màu, lượng chất hữu cơ và pH cao. Nhiều công trình nghiên cứu trước đây cho thấy keo tụ bằng phèn nhôm có thể khử màu hiệu quả 50-90%, đặc biệt hiệu quả cao với loại thuốc nhuộm sulfur.

2.4. Tác động môi trường – công nghệ XLNT dệt nhuộm

Nguồn nước thải phát sinh trong công nghiệp dệt nhuộm là từ các công đoạn hồ sợi, rũ hồ, nấu tẩy, nhuộm và hoàn tất.
Bảng 2:  Các chất ô nhiễm và đặc tính của công nghệ XLNT dệt nhuộm
Với các hóa chất sử dụng như trên thì khi thải ra nguồn tiếp nhận, nhất là ra các sông ngòi, ao hồ sẽ gây độc cho các loài thủy sinh. Có thể phân chia các nhóm hóa chất ra làm 3 nhóm chính:
Nhóm 1: Các chất độc hại đối với vi sinh và cá
– Xút (NaOH) và Natri Cacbonat (Na2CO3) được dùng với số lượng lớn để nấu vải sợi bông và xử lý vải sợi pha (chủ yếu l Poslyeste, bông).
– Axít vô cơ (H2SO4) dùng để giặt, trung hòa xút, hiện màu thuốc nhuộm hoàn nguyên tan (Indigisol).
– Clo hoạt động (nước tẩy Javen) dùng để tẩy trắng vải sợi bông.
– Fomatđêhyt có trong chất cầm màu và các chất dùng xử lý hoàn tất.
– Dầu hỏa dùng để chế tạo hồ in pigment.
– Một hàm lượng kim loại nặng đi vào nước thải:
• Trong một tấn xút công nghiệp nếu sản xuất bằng điện cực thuỷ ngân sẽ có 4g thuỷ ngân (Hg).
• Tạp chất kim loại nặng có trong thuốc nhuộm sử dụng.
– Một lượng halogen hữu cơ độc hại đưa vào nước thải từ một số thuốc nhuộm hoàn nguyên, phân tán, hoạt tính, pigment …
Nhóm 2 : Các chất khó phân giải vi sinh
– Các chất giặt vòng thơm, mạch Etylenoxit dài hoặc có cấu trúc mạch nhánh Alkyl.
– Các Polyme tổng hợp bao gồm các chất hồ hoàn tất, các chất hồ sợi dọc như polyvinylalcol, polyacrylat,…
– Phần lớn các chất làm mềm vải, các chất tạo phức trong xử lý hoàn tất.
– Nhiều thuốc nhuộm và chất tăng trắng quang học đang sử dụng,…
Nhóm 3: Các chất ít độc và có thể phân giải vi sinh
– Xơ sợi và các tạp chất thiên nhiên có trong xơ sợi bị loại bỏ trong các công đoạn xử lý trước.
– Các chất dùng để hồ sợi dọc.
– Axít axetic (CH3COOH), axít fomic (HCOOH) để điều chỉnh pH…
– Tải lượng ô nhiễm phụ thuộc vào nhiều loại sợi thuộc thiên nhiên hay tổng hợp, công nghệ nhuộm (nhuộm liên tục hay gián đoạn), công nghệ in hoa và độ hòa tan của hóa chất sử dụng. Khi hòa trộn nước thải của các công đoạn, thành phần nước thải có thể khái quát như sau:
· pH: 4 – 12 (pH = 4.5 cho công nghệ nhuộm sợi PE, pH = 11 cho công nghệ nhuộm sợi Co).
· Nhiệt độ: dao động theo thời gian và thấp nhất là 400C. So sánh với nhiệt độ cao nhất không ức chế hoạt động của vi sinh là 370C thì nước thải ở đây gây ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả xử lý sinh học.
· COD: 250 – 1500 mg 02/l ( 50 – 150 kg/tấn vải)
· BOD5: 80 – 500 mg 02/l
· Độ màu: 500 – 2000 Pt – Co
· Chất rắn lơ lửng: 30 – 400 mg/l, đôi khi cao đến 1000 mg/l (trường hợp nhuộm sợi cotton).
· SS: 0 – 50 mg/l
· Chất hoạt tính bề mặt: 10 – 50 mg/l
Qua những số liệu vừa nêu cho thấy nước thải ngành dệt nhuộm rất độc cho hệ sinh thái nước. Những ảnh hưởng cho các chất ô nhiễm trong nước thải ngành dệt nhuộm tới nguồn tiếp nhận có thể tóm tắt như sau :
– Độ kiềm cao làm tăng pH của nước, nếu pH >9 sẽ gây độc hại cho các loài thủy sinh.
– Muối trung tính làm tăng tổng hàm lượng chất rắn. Nếu lượng nước thải lớn sẽ gây độc hại cho các loài thủy sinh do tăng áp suất thẩm thấu, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của tế bào.
– Hồ tinh bột biến tính làm tăng BOD, COD của nguồn nước gây tác hại đối với đời sống thuỷ sinh do làm giảm oxy hòa tan trong nước.
– Độ màu cao do dư lượng thuốc nhuộm trong nước thải gây màu cho nguồn tiếp nhận, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của các loài thuỷ sinh, ảnh hưởng tới cảnh quang. Các chất độc nặng như sunfit kim loại nặng, các hợp chất halogen hữu cơ (AOX) có khả năng tích tụ trong cơ thể sinh vật với hàm lượng tăng dần theo chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái nguồn nước, gây ra một số bệnh mãn tính đối với người và động vật.
– Hàm lượng ô nhiễm các chất hữu cơ cao sẽ làm giảm oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến sự sống các loài thuỷ sinh.

III. CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM

3.1. Cơ sở thiết kế

a. Lưu lượng và tính chất dòng thải:

 Hệ thống xử lý nước thải có nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý lượng nước thải dệt nhuộm có lưu lượng 1500 m3/ngày.đêm. Nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn Việt Nam QUY CHUẨN QCVN 13:2008/BTNMT.

– Lưu lượng nước thải ngày: Q = 1500 m3/ngày.đêm.

– Thời gian hoạt động của trạm T = 24 h
– Số ngày hoạt động n = 7 ngày/tuần

b. Tính chất nước thải trước xử lý: (xem phần trên)

3.2. Thuyết minh công nghệ XLNT dệt nhuộm

hoá chất xử lý nước thải dệt nhuộm

a. Hố thu công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Nước thải từ các nguồn phát sinh theo mạng lưới thu gom chảy vào hố thu của trạm xử lý. Bẫy cát đặt trước hố thu nhằm loại bỏ cát và các vật thể nặng để bảo vệ thiết bị và hệ thống đường ống công nghệ phía sau, song chắn rác thô để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải. Sau đó nước thải sẽ được bơm lên tháp giải nhiệt.
Thiết bị lọc rác tinh đặt sau hố thu trước khi bơm lên tháp giải nhiệt để loại bỏ rác có kích thước nhỏ như: sợi vải, vải vụn…, làm giảm SS trong nước thải.

b. Tháp giải nhiệt công nghệ XLNT dệt nhuộm:

     Tháp giải nhiệt có chức năng luồng nước nóng xả đều trên bề mặt tấm tản nhiệt, thông qua luồng không khí và hơi nước nóng luân chuyển tiếp xúc với nhau, nước nóng và luồng không khí sản sinh trao đổi nhiệt với nhau, đồng thời bộ phận nước nóng bị bốc hơi, hơi nước nóng được hòa vào trong không khí, sau đó nước nóng được giải nhiệt chảy xuống bể điều hòa.

c. Bể điều hòa công nghệ XLNT dệt nhuộm:

     Tại bể điều hòa, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu. Điều hòa lưu lượng là phương pháp được áp dụng để khắc phục các vấn đề sinh ra sự dao động của lưu lượng, cải thiện hiệu quả hoạt động của các quá trình xử lý tiếp theo. Bơm được lắp đặt trong bể điều hòa để đưa nước lên các công trình phía sau.

d. Bể phản ứng công nghệ XLNT dệt nhuộm:

     Trong nước thải các cặn bẩn, thuốc nhuộm, các sản phẩm vô cơ, chất ô nhiễm …có kích thước nhỏ nên chúng tham gia vào chuyển động nhiệt cùng với phân tử nước tạo nên một hệ keo phân tán trong toàn bộ thể tích nước. Chúng có độ bền nhỏ hơn độ bền phân tử nên dễ phá huỷ bằng phèn. Phèn cho vào nước thải nhằm làm mất độ keo thiên nhiên trong nước thải, đồng thời tạo ra hệ keo mới có khả năng kết hợp chất ô nhiễm thành những bông cặn, có hoạt tính bề mặt cao, dễ lắng. Các quá trình phản ứng diễn ra như sau:
– Khuấy trộn phèn với nước thải;
– Thuỷ phân của phèn;
– Phá huỷ độ bền của keo (làm mất ổn định của hệ keo);
– Dính kết hấp thụ và keo tụ do chuyển động nhiệt và do khuấy trộn.
Tại bể phản ứng, hoá chất keo tụ (PAC và phèn Sắt) được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng các thiết bị điện tử. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, các hóa chất được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải.
Trong điều kiện môi trường thuận lợi cho quá trình keo tụ, hóa chất keo tụ và các chất ô nhiễm trong nước thải tiếp xúc, tương tác với nhau, hình thành các bông cặn nhỏ li ti trên khắp thể tích bể. Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông.

e. Bể keo tụ tạo bông công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Chất keo tụ được cho vào nước thải mang điện tích dương (+), bao gồm phèn Nhôm, phèn Sắt và các loại Polymer cao phân tử khác (Polymer +) tạo nên hệ keo mang điện tích dương. Chất trợ keo tụ là các Polymer âm (-) phối hợp với hệ keo mang ion dương giúp cho quá trình lắng các bông bùn xảy ra nhanh hơn.
Tại bể keo tụ tạo bông, hóa chất trợ keo tụ (Polymer -) được châm vào bể với liều lượng nhất định. Dưới tác dụng của hóa chất này và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm, các bông cặn li ti từ bể phản ứng sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn tại bể keo tụ tạo bông có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước và bông cặn hữu dụng tự chảy sang bể lắng hóa lý.

f. Bể lắng hóa lý công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Nước thải từ bể keo tụ tạo bông được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng.
Nước và bông cặn chuyển động qua vùng phân phối nước đi vào vùng lắng của bể lắng theo phương pháp lắng trọng lực. Khi hỗn hợp nước và bông cặn đi vào bể, các bông bùn va chạm với nhau, tạo thành những bông bùn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông bùn ban đầu. Các bông bùn này sẽ có khối lượng riêng lớn hơn nước nên tự lắng xuống  tại vùng chứa cặn của bể lắng. Nước sạch được thu ở phía trên máng răng cưa bể lắng và chảy vào bể sinh học giá thể lưu động MBBR (moving bed biological reactor).

g. Bể sinh học MBBR công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Phương pháp sinh học hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Các vi sinh vật hiếu khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3- , SO42- ,…Vi sinh vật tồn tại trong bùn hoạt tính của bể sinh học bao gồm Pseudomonas, Zoogloea, Achromobacter, Flacobacterium, Nocardia, Bdellovibrio, Mycobacterium, và hai loại vi khuẩn nitrate hóa Nitrosomonas và Nitrobacter. Thêm vào đó, nhiều loại vi khuẩn dạng sợi như Sphaerotilus, Beggiatoa, Thiothrix, Lecicothrix, và Geotrichum cũng tồn tại.
Để thực hiện quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ hòa tan, chất keo và các chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo ba giai đoạn chính như sau:
– Chuyển các chất ô nhiễm từ  pha lỏng tới bề mặt tế bào vi sinh vật;
– Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;
– Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.
Tốc độ quá trình oxy hóa sinh hóa phụ thuộc vào nồng độ các chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất, mật độ vi sinh vật và mức độ ổn định lưu lượng của nước thải ở trạm xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng oxy hóa sinh hóa là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng… Tải trọng chất hữu cơ của bể sinh học hiếu khí truyền thống thường dao dộng từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Nồng độ oxy hòa tan trong nước thải ở bể sinh học hiếu khí cần được luôn luôn duy trì ở giá trị lớn hơn 2,5 mg/l.
Tốc độ sử dụng oxy hòa tan trong bể sinh học hiếu khí phụ thuộc vào:
– Tỷ số giữa lượng thức ăn (chất hữu cơ có trong nước thải) và lượng vi sinh vật: tỷ lệ F/M;
– Nhiệt độ;
– Tốc độ sinh trưởng và hoạt độ sinh lý của vi sinh vật (bùn hoạt tính);
– Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất;
– Lượng các chất cấu tạo tế bào;
– Hàm lượng oxy hòa tan.
Các phản ứng sinh hóa cơ bản của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước thải gồm có:
• Oxy hóa các chất hữu cơ:
CxHyOz + O2                        CO2 + H2O + H
• Tổng hợp tế bào mới:
CxHyOz + NH3 + O2                Tế bào vi khuẩn+CO2+H2O+C5H7NO2 – H
• Phân hủy nội bào:
 C5H7NO2 + 5O2                     5CO2 + 2H2O + NH3  H
Ưu điểm của công nghệ XLNT dệt nhuộm MBBR so với công nghệ truyền thống:
– Tất cả mọi thiết kế đều nhằm mục đích là hiệu quả xử lý, tiết kiệm năng lượng. Với công nghệ sinh học xử lý nước thải, chúng ta cần mật độ vi sinh vật cao nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình oxy hóa sinh hóa. Nói nôm na là càng nhiều vi sinh ăn chất hữu cơ có trong nước thì quá trình xử lý sẽ nhanh hơn. Vấn đề ở đây là làm sao cho bề mặt tiếp  xúc giữa nước thải, oxi và vi sinh vật càng cao càng tốt.
– Giá thể lưu động MBBR được ứng dụng rộng rãi trên thế giới vài năm trở lại đây. Giá thể MBBR dạng hình cầu có kích thước Ø 10-Ø 20 cm, có tỷ trọng nhẹ hơn nước nên trong quá trình sục khí sẽ có giá thể vi sinh bám dính di chuyển khắp nơi trong bể MMBR. Các giá thể này cho phép tăng mật độ vi sinh lên đến 9.000-14.000 g/m3. Với mật độ này các quá trình oxy hóa để khử BOD, COD và NH4 diễn ra nhanh hơn gần 10 lần so với phương pháp truyền thống. (Ở phương pháp bùn hoạt tính Aeroten thông thường nồng độ vi sinh chỉ đạt 1.000-1.500 g/m3, ở các thiết bị với đệm vi sinh bám cố định chỉ đạt 2.500-3.000 g/m3). Do đó, thời gian lưu của bể MBBR chỉ cần 4h, trong khi bể Aeroten là 8-12h.
Điều quan trọng hơn nữa của phương pháp MBBR là chúng ta không cần phải tuần hoàn bùn hiếu khí lại như phương pháp Aeroten, nhược điểm của việc tuần hoàn bùn là làm giảm đi sự hoạt động của vi sinh hiếu khí vì vi sinh phải nằm ở bể lắng, không có dưỡng khí, khi bơm bùn hoàn lưu về bể aeroten làm cho vi sinh bị “shock” tải trọng, do đó hiệu quả xử lý sẽ không cao bằng phương pháp giá thể MBBR.
Chúng ta cũng không cần phải xây dựng bể thiếu khí Anoxic để khử N, P là do bể MBBR chứa đựng các giá thể di động cũng là nơi lưu trú cho các chủng vi sinh bám dính nên quá trình nitrat hoá xảy ra liên tục ở đây. Hai loại vi khuẩn chính tham gia vào quá trình này là Nitrosomonas và Nitrobacter.
 Ta có phương trình như sau:
 NH4+          Oxidation          NO2-  + NO3- + H+ + H2O
 NO2-,NO3-        Redution              N2   => escape to air
 PO4-3            Microorganism                (PO4-3)salt   =>sludge
Như vậy bể sinh học hiếu khí MBBR có nhiệm vụ xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải. Trong bể MBBR diễn ra quá trình oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi sinh vật hiếu khí. Tại bể MBBR có hệ thống sục khí trên khắp diện tích bể nhằm cung cấp ôxy, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống, phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng. Ở điều kiện thuận lợi, vi sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng và tồn tại dưới dạng bông bùn dễ lắng tạo thành bùn hoạt tính. Sau quá trình oxy hóa (bằng sục không khí) với đệm vi sinh di động, bùn hoạt tính (tức lượng vi sinh phát triển và hoạt động tham gia quá trình xử lý) được bám giữ trên các giá thể bám dính di động dạng cầu. Nước thải sau khi qua bể MBBR sẽ tự chảy vào bể lắng sinh học.

h. Bể lắng sinh học công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Nước thải sau khi qua bể MBBR được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng sinh học lamella. Cấu tạo và chức năng của bể lắng sinh học lamella tương tự như bể lắng hóa lý. Nước sạch được thu đều trên bề mặt bể lắng thông qua máng tràn răng cưa. Nước thải sau bể lắng sẽ tự chảy sang bể trung gian chứa nước kết hợp khử màu, khử trùng.

i. Bể trung gian kết hợp khử màu công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Với thời gian lưu thích hợp, bể được sục khí để hoà trộn đều hoá chất khử màu với nước thải. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại hóa chất khử màu rất hiệu quả, đặc biệt là hóa chất khử màu có tên gọi HANO. Đây là hóa chất đặc biệt, khử được tất cả các màu, kể cả các màu khó như chất quang sắc, đặc biệt hơn là HANO hoạt động tốt mà không phụ thuộc vào các yếu tố nhiệt độ, pH, độ oxi hóa… Nước sau khi qua bể trung gian kết hợp khử màu sẽ được bơm qua cụm lọc áp lực.

j. Cụm lọc áp lực công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Bể lọc áp lực sử dụng trong công nghệ này là bể lọc áp lực đa lớp vật liệu: sỏi đỡ, cát thạch anh và than hoạt tính để loại bỏ các chất lơ lửng, các chất rắn không hòa tan, các nguyên tố dạng vết, halogen hữu cơ nhằm đảm bảo độ trong của nước .
Nước sau khi qua cụm lọc áp lực đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường theo QCVN 24:2009 cột B.

k. Bể chứa bùn công nghệ XLNT dệt nhuộm:

      Bùn từ hố thu, bể lắng 1 và phần bùn dư trong bể lắng 2 được đưa tới bể chứa bùn để lưu trữ trong khoảng thời gian nhất định. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.
Sau đó bùn được bơm qua máy ép bùn khuôn bản để loại bỏ nước. Bùn khô được lưu trữ tại nhà chứa bùn trong thời gian nhất định. Sau đó, bùn được các cơ quan chức năng thu gom và xử lý theo quy định.
Nước từ bể nén bùn và máy ép bùn theo đường ống chảy trở lại hố thu gom của trạm để tái xử lý.
Kết luận:
Công nghệ XLNT dệt nhuộm nêu trên giải quyết tất cả các vấn đề khó khăn trong việc xử lý nước thải dệt nhuộm như nhiệt độ, độ màu khó phân giải vi sinh, COD cao … Đây là một công nghệ mới, hiện đại, tiết kiệm được nhiều diện tích đất, hiệu quả xử lý cao, giảm chi phí vận hành đến mức thấp nhất.

      Hãy liên hệ Công ty hóa chất Ngọc Lân để biết thêm về Công nghệ và hoá chất công nghiệp dệt nhuộm.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !

Hoá chất xử lý nước thải thuỷ sản

Hoá chất PAC vàng nghệ

Công nghệ hoá chất xử lý nước thải thủy sản AAO& MBR là một công nghệ xử lý hiện đại, hiệu quả và tiết kiệm rất nhiều diện tích. Công nghệ này đáp ứng hoàn hảo mọi yêu cầu của của chủ đầu tư như tính mỹ quan, xử lý hiệu quả, tiết kiệm diện tích và hiệu quả kinh tế dài lâu.

 AAO là sự kết hợp nhiều quá trình xử lý ô nhiễm hữu cơ bằng sinh học  trong các điều kiện yếm khí(anaerobic), thiếu khí (anoxic) và hiếu khí (oxic), nhờ đó mà các chất ô nhiễm hữu cơ trong nước thải được xử lý triệt để hơn. – MBR (Membrane Biological Reactor) là kỹ thuật tách sinh khối vi khuẩn bằng màng vi lọc với kích thước màng dao động từ 0,1 – 0,4µm. Nước thải chế biến thủy sản chứa phần lớn các chất thải hữu cơ có nguồn gốc từ động vật và có thành phần chủ yếu là protein và các chất béo. Trong nước thải chứa các chất như  cacbonhydrat, protein, chất béo… khi xả vào nguồn nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng ôxy hòa tan để phân hủy các chất hữu cơ. Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu, nó hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu… Các chất dinh dưỡng (N,P) với nồng độ cao gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, rong tảo phát triển làm suy giảm chất lượng nguồn nước. Các vi sinh vật, đặc biệt vi khuẩn gây bệnh và trứng giun sán trong nguồn nước là nguồn ô nhiễm đặc biệt. Con người trực tiếp sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn hay qua các nhân tố lây bệnh sẽ truyền dẫn các bệnh dịch cho người như bệnh lỵ, thương hàn, bại liệt, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, tiêu chảy cấp tính… Nồng độ ô nhiễm của nước thải tinh thủy sản thể hiện cụ thể ở bảng sau.

1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải thủy sản

2. Thuyết minh công nghệ XLNT thủy sản

Nước thải từ các phân xưởng sản xuất theo mạng lưới thoát nước riêng dẫn đến bể lắng cát được đặt âm sâu dưới đất, ở đây sẽ giữ lại cát và các chất rắn lơ lửng có kích thước lớn để đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình xử lý tiếp theo. Nước thải được dẫn qua song chắn rác nhằm loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn như: giấy, gỗ, nilông, lá cây … ra khỏi nước thải. Trên mương dẫn nước thải đặt thiết bị lược rác thô trống quay nhằm vớt các loại đầu tôm, vi, vẩy cá… Nước thải sẽ chảy đến hầm tiếp nhận rồi bơm qua máy sàng rác tinh để loại bỏ các chất rắn có kích thước lớn hơn 1mm. Từ máy lược rác tinh nước tự chảy xuống bể điều hòa. Tại bể điều hòa, máy khuấy trộn chìm sẽ hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể sinh ra mùi khó chịu, đồng thời có chức năng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Nước thải được bơm từ bể điều hòa vào bể UASB. Tại bể UASB, các vi sinh vật kỵ khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất vô cơ ở dạng đơn giản và khí Biogas (CO2, CH4, H2S, NH3…), theo phản ứng sau : Chất hữu cơ + Vi sinh vật kỵ khí  →  CO2 + CH4 + H2S + Sinh khối mới + … Bể UASB hoạt động theo nguyên lý nước thải chảy ngược qua lớp bùn hoạt tính. Nhờ đó các bong bong khí sinh ra trong quá trình yếm khí, áp lực dòng chảy qua thiết bị hướng dòng sẽ tự phân bố nước thải cho vi sinh vật phân hủy chấy hữu cơ mà không cần tác động cơ khí như các công nghệ khác. Sau bể UASB nước thải được dẫn qua cụm bể MBR: kỹ thuật tách sinh khối vi khuẩn bằng màng vi lọc (micro-flitration). Trong bể duy trì hệ bùn sinh trưởng lơ lửng, các phản ứng diễn ra tại đây giống như các quá trình sinh học thông thường khác, nước sau xử lý được tách bùn bằng hệ lọc màng với kích thước màng khoảng 0,1 – 0,4 µm. Màng ở đây còn đóng vai trò như một giá thể cho vi sinh vật dính bám tạo nên các lớp màng vi sinh vật dày, làm tăng bề mặt tiếp xúc pha, tăng cường khả năng phân huỷ sinh học. Nhằm loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học, loại bỏ vi khuẩn trong nước thải và dùng hóa chấtBùn dư sẽ được bơm về bể chứa bùn để nén bùn sau đó bơm qua máy ép bùn để loại bỏ nước, giảm khối tích bùn. Bùn khô được cơ quan chức năng thu gom và xử lý định kỳ. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi sinh ra do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

Kết luận: Với các quy định ngày càng khắt khe từ phía chính phủ, thì việc đầu tư một hệ thống xử lý nước thải như công nghệ XLNT thủy sản AAO&MBR là điều nên làm.

Hãy liên hệ công ty môi trường Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí về Công nghệ  và hoá chất xử lý nước thải thủy sản.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !Hoá chất xử lý nước thải chế biến thuỷ sản

Hoá chất xử lý nước thải chế biến thuỷ sản

 

Công ty hóa chất cơ bản Ngọc Lân chuyên phân phối và cung cấp hóa chất xử lý nước thải hàng chính hãng ,chất lượng  với giá hợp lý LH: 0905555146

Hoá chất xử lý nước thải gốm sứ

hóa chất cơ bản xử lý nước thải

Hệ thống hoá chất xử lý nước thải gốm sứ : Việc nghiên cứu công nghệ và thiết kế xây dựng hệ thống sử lý nước thải gốm sứ nhằm bảo vệ môi trường trong sạch là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn phát triển hiện nay và trong tương lai. Những năm gần đây, cùng với các ngành công nghiệp, ngành  trồng trọt chăn nuôi ngành gốm sứ của nước ta cũng tương đối phát triển và sản phẩm của chúng cũng ngày càng phong phú đa dạng, chất lượng không ngừng nâng cao, thị trường đang dần mở rộng. Theo mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta, ngành công nghiệp gốm sứ là một trong những ngành kinh tế trọng điểm, ngành công nghiệp này đã và đang phát triển mạnh mẽ đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước và phục vụ cho xuất khẩu. Bên cạnh những lợi nhuận kinh tế cao ngành công nghiệp gốm sứ cũng gây tác hại tiêu cực cho môi trường sinh thái. Đó chính là mặt trái của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Hậu quả của nó là môi trường đang ngày càng bị phá hủy nghiêm trọng, mất tính đa dạng sinh học, thay đổi khí hậu toàn cầu…

Đất rót và đất in từ xưởng số 2 được chuyển qua xưởng số 1 để sản xuất gốm thô. Khi đưa vào quy trình sản xuất gốm thô, đất được trộn với silicat, sản phẩm gốm thô được đem phơi, lưu kho, cung cấp cho khách hang. Sản phẩm: bình cấm hoa các loại, chậu đựng hoa các loại, voi các loại, đôn các loại,… Nước thải sản xuất – Nguồn phát sinh: từ quá trình vệ sinh nhà máy và máy móc thiết bị sau mỗi giờ làm việc. – Thành phần gây ô nhiễm trong môi trường nước thải sản xuất là chất rắn lơ lửng (thông số SS). Các chất rắn lơ lửng khi thải ra môi trường sẽ làm mất vẻ mỹ quan, cản trở sự truyền sáng từ đó ngăn cản quá trình trao đổi oxy trong môi trường nước. Nước thải sinh hoạt – Nguồn phát sinh: từ hoạt động sinh hoạt của công nhân. – Thành phần, tính chất:

Thông số ô nhiễm nước thải gốm sứ

Thông số xử lý nước thải gốm sứ

1. Công nghệ hệ thống xử lý nước thải gốm sứ:

 

Nước thải ở mỗi dây chuyền sản xuất được thu gom bằng hệ thống mương thu nước. Phía trước bể gom chúng tôi đặt song chắn rác để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn trong nước thải. Tại bể này thì một phần cặn có kích thước lớn (cát, đá vụn) được lắng xuống. Sau đó, nước thải được bơm lên bể điều hòa nhằm ổn định lưu lượng và nồng độ. Tại bể điều hòa, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu. Từ bể điều hoà nước được bơm sang bể phản ứng. Tại bể phản ứng, hóa chất keo tụ được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng bơm định lượng hóa chất. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể,hóa chất cơ bản xử lý nước thải

hóa chất cơ bản xử lý nước thải gốm sứ.

Dưới tác dụng của chất trợ keo tụ và hệ thống motor cánh khuấy với tộc độ chậm, các bông cặn li ti sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước và bông cặn ở bể keo tụ tạo bông tự chảy sang bể lắng 1. Phần bùn trong nước thải được giữ lại ở đáy bể lắng. Lượng bùn này được bơm qua bể chứa bùn. Nước thải tiếp tục được chảy qua bể Aerotank, ở bể này hàm lượng chất hữu cơ trong nước thải giảm rất nhiều nhờ sự phân hủy sinh học của các vi sinh hiếu khí. Trong bể có hệ thống sục khí để cấp một lượng oxy cần thiết cho vi sinh hoạt động. Nước thải tiếp tục được bơm qua bể lắng 2. Bể lắng 2 cũng thực hiện chức năng lắng như bể lắng 1. Bùn được giữ lại ở đáy bể lắng.  Một phần được tuần hoàn lại bể Aerotank, một phần được đưa đến bể chưa bùn. Tại đây, hàm lượng SS, BOD, COD đã được xử lý tương đối triệt để. Tiếp theo, nước trong chảy qua bể trung gian được bơm lên bể lọc áp lực với các vật liệu lọc để loại bỏ các hợp chất hữu cơ hòa tan, các nguyên tố dạng vết, những chất khó hoặc không phân giải sinh học. Nước thải sau khi qua bể lọc áp lực sẽ đi qua bể lọc Ultrafiltration(UF) nhằm loại bỏ các vi sinh vật, loại bỏ màu và các chất rắn hòa tan tron nước.

3. Ưu điểm công nghệ

Đảm bảo chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định hiện hành của pháp luật; · Xử lý các chất dinh dưỡng (nito,phospho) trong nước thải. Đây là đặc điểm nổi bật so với các công nghệ khác. Các công nghệ khác thường không đạt các chỉ tiêu này; · Đây là công nghệ thân thiện với môi trường, không dùng hóa chất trong quá trình xử lý; · Thời gian thi công, lắp đặt ngắn; · Chi phí vận hành và bảo trì thấp, hiệu quả xử lý ổn định. · Yêu cầu về không gian nhỏ hơn các thiết bị xử lý nước thải truyền thống. · Tiết kiệm diện tích sử dụng; · Chi phí vận hành, bảo trì bảo dưỡng thấp; · Hòa hợp với các công trình hiện hữu.

4. Nhược điểm công nghệ

Nhân viên vận hành cần được đào tạo về vận hành trạm xử lý nước thải ứng dụng công nghệ vi sinh và công nghệ khử trùng khi dùng hóa chất; · Chất lượng nước thải sau xử lý có thể bị ảnh hưởng nếu một trong những công trình đơn vị trong trạm không được vận hành đúng các yêu cầu kỹ thuật.

Liên hệ công ty hoá chất Ngọc Lân để được tư vấn hóa chất công nghiệp xử lý hiện đại, giá thành phải chăng, phục vụ chu đáo, chế độ bảo hành tốt cho các Hệ thống xử lý nước thải gốm sứ.

Chúc các bạn có một ngày làm việc vui vẻ và hiệu quả !

Hoá chất xử lý nước thải xi mạ

hoá chất xử lý nước thải xi mạ

Công ty hóa chất công nghiệp hóa chất cơ bản Ngọc Lân xin giới thiệu đến quy trình và hóa chất xử lý nước thải xi mạ 

  • Nước thải xi mạ ảnh hưởng đến môi trường

Sản lượng nước thải ngành xi mạ ở Việt Nam là không nhiều nhưng với tính chất rất độc hại và chứa  nhiều độc tố hữu cơ nên nếu không được xử lý đúng phương pháp mà thải ra môi trường xung quanh sẽ hây tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái , đời sống vi sinh vật như; làm chất cá và các sinh vật sống trong nước , không những chỉ ảnh hưởng trực tiếp mà nó còn để lại hậu quả lâu dài khó lường.

Nước thải xi mạ được sinh ra reong quá trình xi mạ kiem loại nên trong nước thải có chứa các hợp chất axit và các tạp chất khác gây ra hiện tượng làm hao mòn thiết bị , công cụ của doanh nghiệp như các bể chứa nước thải và các đường ống dẫn nước thải sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Nếu không quản lý được nguồn xã nước thải xi mạ có thể nó sẽ gây ảnh hưởng đến mùa màn và làm chết các loại thực vật nằm gần vị trí xã nước thải xi mạ.

  • Nước thải xi mạ ảnh hưởng đến con người

Nước thải xi mạ là một trong những nước thải độc hại nhất đối với con người do trong nước thải xi mạ chứa các tạp chất chủ yếu là kim loại độc gây ảnh hưởng đến con người gây nhiều dịch bệnh có thể ảnh hưởng đến tính mạng con người.

Nếu không xử lý nước thải xi mạ kịp thời mà để lâu trong nước thải xi mạ sẽ sản sinh ra một số vi khuẩn gây ra một số căn bệnh về da có thể nặng hơn là gây ra ung thư da

  • Quy trình dùng hóa chất xử lý nước thải xi mạ

hoa chat xu ly nuoc thai xi ma

Trước tiên nước thải theo hệ thống ống dẫn qua thanh chắn rác để lọc bớt các tạp chất rắn hữu cơ có kích thước lớn rồi mới vào bể chứa nước thải .Tiếp tục nước thải từ bể chứa theo ống dẫn qua một tấm lưới để lọc các tạp chất có kích thước nhỏ hơn rồi mới theo ống dẫn vào bể điều hòa.

Tại bể điều hòa nồng độ tính chất , lưu lượng nước thải sẽ được ổn định để chuẩn bị cho quy trình xử lý nước thải tiếp theo.

Nước thải theo ống dẫn qua bể phản ứng, khi nước thải ở trong bể phản ứng ta cho hóa chất NaHSO4, FeSO4 vào và bắt đầu cho hệ thống trong bể phản ứng hoạt đông để hòa trộn hóa chất và nước thải .

Sau khi được trộn lẫn nước thải được cho vào bể keo tụ tạo bông , ta tiếp tục cho hóa chất hỗ trợ quá trình keo tụ là hóa chất NaOH vào bể keo tụ để tăng hiệu quả kết dính các chất cặn lơ lững còn trong nước thải , giúp nước thải sạch hơn.

Tiếp theo nước thải theo ống dẫn qua bể lắng và bể trung gian, tại hai bể này ta dùng máy lọc áp lực lớn để tách nước thải các chất bùn lắng ở đáy và chia ra làm 2: bùn về hố thu bùn , tại đây bùn được khử mùi. Nước thải sau khi xử lý theo ống dẫn vào hố chứa .

Mọi chi tiết xin liên hệ công ty hóa chất công nghiệp hóa chất cơ bản Ngọc Lân để được hướng dẫn sử dụng hóa chất xử lý nước thải xi mạ đúng phương pháp và hợp lý  qua SDT 0905555146.

 

 

 


 

 

Hoá chất xử lý nước thải chế biến hạt điều

hoá chất xử lý nước thải chế biến hạt điều

Xử lý nước thải chế biến hạt điều để tránh gây ô nhiễm môi trường là điều bắt buộc. Nước thải sản xuất hạt điều xuất phát từ công đoạn ngâm nước, chao điều là chủ yếu, và một phần nhỏ từ các công đoạn khác như từ nước thải khói lò sấy hạt điều.

Công đoạn chế biến hạt điều:

Ngâm nước, chao hạt điều –  Đốt lò cao hạt và sấy nhân hạt điều- Bóc vỏ lụa.

Với tính chất ô nhiễm như BOD 170-500mg/l, COD 300-900mg/l, tổng P 8-30mg/l…Dầu thải từ công đoạn chao dầu, từ ống khói máy chao sẽ thoái hóa và chuyển thành cặn dầu. Cặn này không thể sử dụng được vào bất kỳ một việc gì khác, lại không thể bị phân hủy trong bất kỳ môi trường tự nhiên nào, kể cả hàng chục năm sau. Đó thực sự là một hiểm họa đối với môi trường, đất đai và nguồn nước nên cần phải xử lý.

Thuyết minh quy trình hệ thống, hoá chất xử lý nước thải chế biến hạt điều :

1. Hố thu:

Nước thải từ các nguồn phát sinh theo mạng lưới thu gom chảy vào hố thu của trạm xử lý. Bẫy cát đặt trước hố thu nhằm loại bỏ cát và các vật thể nặng để bảo vệ thiết bị và hệ thống đường ống công nghệ phía sau, song chắn rác thô để loại bỏ các tạp chất có kích thước lớn ra khỏi nước thải.

Thiết bị lọc rác tinh đặt sau hố thu trước khi bơm lên tháp giải nhiệt để loại bỏ rác có kích thước nhỏ như: vỏ điều, mày điều.. làm giảm SS trong nước thải.

2. Bể tách dầu:

Bể tách dầu thô được thiết kế có hai ngăn, một ngăn để tuyển nổi bằng khí nén, tạo điều kiện thuận lợi để các hạt dầu nổi lên trên mặt nước, còn ngăn kia cho nước trong chảy qua. Dầu này được loại khỏi nước thải bằng thiết bị tách dầu hoặc vớt thủ công cho vào bể chứa dầu cặn. Nước sạch váng dầu được đưa qua bể điều hòa.

3. Bể điều hòa xử lý nước thải:

Tại bể điều hòa, chúng tôi bố trí máy khuấy trộn chìm nhằm mục đích hòa trộn đồng đều nước thải trên toàn diện tích bể, ngăn ngừa hiện tượng lắng cặn ở bể, sinh ra mùi khó chịu. Điều hòa lưu lượng là phương pháp được áp dụng để khắc phục các vấn đề sinh ra sự dao động của lưu lượng, cải thiện hiệu quả hoạt động của các quá trình xử lý tiếp theo. Bơm được lắp đặt trong bể điều hòa để đưa nước lên các công trình phía sau.

4. Bể phản ứng trong hệ thống xử lý nước thải chế biến hạt điều:

Trong nước thải các cặn bẩn, các sản phẩm vô cơ, chất ô nhiễm …có kích thước nhỏ nên chúng tham gia vào chuyển động nhiệt cùng với phân tử nước tạo nên một hệ keo phân tán trong toàn bộ thể tích nước. Chúng có độ bền nhỏ hơn độ bền phân tử nên dễ phá huỷ bằng phèn. Phèn cho vào nước thải nhằm làm mất độ keo thiên nhiên trong nước thải, đồng thời tạo ra hệ keo mới có khả năng kết hợp chất ô nhiễm thành những bông cặn, có hoạt tính bề mặt cao, dễ lắng. Các quá trình phản ứng diễn ra như sau:

–         Khuấy trộn phèn với nước thải;

–         Thuỷ phân của phèn;

–         Phá huỷ độ bền của keo (làm mất ổn định của hệ keo);

–         Dính kết hấp thụ và keo tụ do chuyển động nhiệt và do khuấy trộn.

Tại bể phản ứng, hoá chất keo tụ (PAC và phèn Sắt) được châm vào bể với liều lượng nhất định và được kiểm soát chặt chẽ bằng các thiết bị điện tử. Dưới tác dụng của hệ thống cánh khuấy với tốc độ lớn được lắp đặt trong bể, các hóa chất được hòa trộn nhanh và đều vào trong nước thải.

Trong điều kiện môi trường thuận lợi cho quá trình keo tụ, hóa chất keo tụ và các chất ô nhiễm trong nước thải tiếp xúc, tương tác với nhau, hình thành các bông cặn nhỏ li ti trên khắp thể tích bể. Hỗn hợp nước thải này tự chảy qua bể keo tụ tạo bông.

5. Bể keo tụ tạo bông:

 Chất keo tụ được cho vào nước thải mang điện tích dương (+), bao gồm phèn Nhôm, phèn Sắt và các loại Polymer cao phân tử khác (Polymer +) tạo nên hệ keo mang điện tích dương. Chất trợ keo tụ là các Polymer âm (-) phối hợp với hệ keo mang ion dương giúp cho quá trình lắng các bông bùn xảy ra nhanh hơn.

Tại bể keo tụ tạo bông, hóa chất trợ keo tụ (Polymer -) được châm vào bể với liều lượng nhất định. Dưới tác dụng của hóa chất này và hệ thống motor cánh khuấy với tốc độ chậm, các bông cặn li ti từ bể phản ứng sẽ chuyển động, va chạm, dính kết và hình thành nên những bông cặn tại bể keo tụ tạo bông có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông cặn ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lắng ở bể lắng. Hỗn hợp nước và bông cặn hữu dụng tự chảy sang bể lắng hóa lý.

6. Bể lắng hóa lý:

Nước thải từ bể keo tụ tạo bông được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng.

Nước và bông cặn chuyển động qua vùng phân phối nước đi vào vùng lắng của bể lắng theo phương pháp lắng trọng lực. Khi hỗn hợp nước và bông cặn đi vào bể, các bông bùn va chạm với nhau, tạo thành những bông bùn có kích thước và khối lượng lớn gấp nhiều lần các bông bùn ban đầu. Các bông bùn này sẽ có khối lượng riêng lớn hơn nước nên tự lắng xuống  tại vùng chứa cặn của bể lắng. Nước sạch được thu ở phía trên máng răng cưa bể lắng và chảy vào bể sinh học giá thể lưu động MBBR (moving bed biological reactor).

7. Bể sinh học MBBR trong hệ thống xử lý nước thải chế biến hạt điều:

          Phương pháp sinh học hiếu khí sử dụng nhóm vi sinh vật hiếu khí, hoạt động trong điều kiện cung cấp oxy liên tục. Quá trình phân hủy các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Các vi sinh vật hiếu khí sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3, SO42-,…Vi sinh vật tồn tại trong bùn hoạt tính của bể sinh học bao gồm Pseudomonas,Zoogloea, Achromobacter, Flacobacterium, Nocardia, Bdellovibrio, Mycobacterium, và hai loại vi khuẩn nitrate hóa Nitrosomonas và Nitrobacter. Thêm vào đó, nhiều loại vi khuẩn dạng sợi như Sphaerotilus, Beggiatoa, Thiothrix, Lecicothrix, và Geotrichum cũng tồn tại.

Để thực hiện quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ hòa tan, chất keo và các chất phân tán nhỏ trong nước thải cần di chuyển vào bên trong tế bào vi sinh vật theo ba giai đoạn chính như sau:

–         Chuyển các chất ô nhiễm từ  pha lỏng tới bề mặt tế bào vi sinh vật;

–         Khuếch tán từ bề mặt tế bào qua màng bán thấm do sự chênh lệch nồng độ bên trong và bên ngoài tế bào;

–         Chuyển hóa các chất trong tế bào vi sinh vật, sản sinh năng lượng và tổng hợp tế bào mới.

Tốc độ quá trình oxy hóasinh hóa phụ thuộc vào nồng độ các chất hữu cơ, hàm lượng các tạp chất, mật độ vi sinh vật và mức độ ổn định lưu lượng của nước thải ở trạm xử lý. Ở mỗi điều kiện xử lý nhất định, các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng oxy hóa sinh hóa là chế độ thủy động, hàm lượng oxy trong nước thải, nhiệt độ, pH, dinh dưỡng và các nguyên tố vi lượng… Tải trọng chất hữu cơ của bể sinh học hiếu khí truyền thống thường dao dộng từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm. Nồng độ oxy hòa tan trong nước thải ở bể sinh học hiếu khí cần được luôn luôn duy trì ở giá trị lớn hơn 2,5 mg/l.

Tốc độ sử dụng oxy hòa tan trong bể sinh học hiếu khí phụ thuộc vào:

–                 Tỷ số giữa lượng thức ăn (chất hữu cơ có trong nước thải) và lượng vi sinh vật: tỷlệ F/M;

–                  Nhiệt độ;

–                 Tốc độ sinh trưởng và hoạt độ sinh lý của vi sinh vật (bùn hoạt tính);

–           Nồng độ sản phẩm độc tích tụ trong quá trình trao đổi chất;

–           Lượng các chất cấu tạo tế bào;

–           Hàm lượng oxy hòa tan.

Các phản ứng sinh hóa cơ bản của quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước thải gồm có:

·        Oxy hóa các chất hữu cơ:

CxHyOz + O2                        CO2 + H2O + DH

·        Tổng hợp tế bào mới:

CxHyOz + NH3 + O2                Tế bào vi khuẩn+CO2+H2O+C5H7NO2 – DH

·        Phân hủy nội bào:

·        C5H7NO2 + 5O2                     5CO2 + 2H2O + NH3 ± DH

Ưu điểm của công nghệ MBBR so với công nghệ truyền thống:

–       Tất cả mọi thiết kế đều nhằm mục đích là hiệu quả xử lý, tiết kiệm năng lượng. Với công nghệ sinh học xử lý nước thải, chúng ta cần mật độ vi sinh vật cao nhằm mục đích đẩy nhanh quá trình oxy hóa sinh hóa. Nói nôm na là càng nhiều vi sinh ăn chất hữu cơ có trong nước thì quá trình xử lý sẽ nhanh hơn. Vấn đề ở đây là làm sao cho bề mặt tiếp  xúc giữa nước thải, oxi và vi sinh vật càng cao càng tốt.

–       Giá thể lưu động MBBRđược ứng dụng rộng rãi trên thế giới vài năm trở lại đây. Giá thể MBBR dạng hình cầu có kích thước từ 10 -20 cm, có tỷ trọng nhẹ hơn nước nên trong quá trình sục khí sẽ có giá thể vi sinh bám dính di chuyển khắp nơi trong bể MMBR. Các giá thể này cho phép tăng mật độ vi sinh lên đến 9.000-14.000 g/m3. Với mật độ này các quá trình oxy hóa để khử BOD, COD và NH4 diễn ra nhanh hơn gần 10 lần so với phương pháp truyền thống. (Ở phương pháp bùn hoạt tính Aeroten thông thường nồng độ vi sinh chỉ đạt 1.000-1.500 g/m3, ở các thiết bị với đệm vi sinh bám cố định chỉ đạt 2.500-3.000 g/m3). Do đó, thời gian lưu của bể MBBR chỉ cần 4h, trong khi bể Aeroten là 8-12h.

       Điều quan trọng hơn nữa của phương pháp MBBR là chúng ta không cần phải tuần hoàn bùn hiếu khí lại như phương pháp Aeroten, nhược điểm của việc tuần hoàn bùn là làm giảm đisự hoạt động của vi sinh hiếu khí vì vi sinh phải nằm ở bể lắng, không có dưỡng khí, khi bơm bùn hoàn lưu về bể aeroten làm cho vi sinh bị “shock” tải trọng, do đó hiệu quả xử lý sẽ không cao bằng phương pháp giá thể MBBR.

       Chúng ta cũng không cần phải xây dựng bể thiếu khí Anoxic để khử N, P là do bể MBBR chứa đựng các giá thể di động cũng là nơi lưu trúcho các chủng vi sinh bám dính nên quá trình nitrat hoá xảy ra liên tục ở đây. Hai loại vi khuẩn chính tham gia vào quá trình này là Nitrosomonas và Nitrobacter.

 Ta có phương trình như sau:

 NH4+          Oxidation          NO2  + NO3 + H+ + H2O

 NO2,NO3        Redution              N2   => escape to air

                             PO4-3            Microorganism                (PO4-3)salt   =>sludge

Như vậy bể sinh học hiếu khí MBBR có nhiệm vụ xử lý các chất hữu cơ còn lại trong nước thải. Trong bể MBBR diễn ra quá trình oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan và dạng keo trong nước thải dưới sự tham gia của vi sinh vật hiếu khí.Tại bể MBBR có hệ thống sục khí trên khắp diện tích bể nhằm cung cấp ôxy, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hiếu khí sống, phát triển và phân giải các chất ô nhiễm. Vi sinh vật hiếu khí sẽ tiêu thụ các chất hữu cơ dạng keo và hòa tan có trong nước để sinh trưởng. Ở điều kiện thuận lợi, vi sinh vật phát triển mạnh, sinh khối tăng và tồn tại dưới dạng bông bùn dễ lắng tạo thành bùn hoạt tính. Sau quá trình oxy hóa (bằng sục không khí) với đệm vi sinh di động, bùn hoạt tính (tức lượng vi sinh phát triển và hoạt động tham gia quá trình xử lý) được bám giữ trên các giá thể bám dính di động dạng cầu. Nước thải sau khi qua bể MBBR sẽ tự chảy vào bể lắng sinh học.

8. Bể lắng sinh học trong hệ thống xử lý nước thải chế biến hạt điều:

Nước thải sau khi qua bể MBBR được phân phối vào vùng phân phối nước của bể lắng sinh học lamella. Cấu tạo và chức năng của bể lắng sinh học lamella tương tự như bể lắng hóa lý. Nước sạch được thu đều trên bề mặt bể lắng thông qua máng tràn răng cưa. Nước thải sau bể lắng sẽ tự chảy sang bể trung gian chứa nước kết hợp khử màu, khử trùng.

9. Bể trung gian:

Với nhiệm vụ chứa nước phục vụ cho máy bơm áp lực. Nó làm nhiệm vụ trung gian giữa bể lắng và máy bơm, nhằm tránh hiện tượng xáo trộn nước do máy bơm tạo áp suất hút nước ở bể lắng. Nước sau khi qua bể trung gian sẽ được bơm qua cụm lọc áp lực.

10. Cụm lọc áp lực và khử trùng:

Lọc áp lực sử dụng trong công nghệ này là bể lọc áp lực đa lớp vật liệu để loại bỏ các chất lơ lửng, các chất rắn không hòa tan, các nguyên tố dạng vết, halogen hữu cơ nhằm đảm bảo độ trong của nước.

Nước sau khi qua cụm lọc áp lực được đưa qua bể khử trùng.

11. Bể khử trùng

Tại bể khử trùng nước thải được châm dung dịch NaOCl với liều lượng nhất định để tiệt trùng. Nước thải sau khi qua bể khử trùng đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường theo QCVN 24:2009 cột B.

12. Bể chứa bùn:

Bùn từ hố thu, bể lắng 1 và phần bùn dư trong bể lắng 2 được đưa tới bể chứa bùn để lưu trữ trong khoảng thời gian nhất định. Tại bể chứa bùn, không khí được cấp vào bể để tránh mùi hôi do sự phân hủy sinh học các chất hữu cơ.

Sau đó bùn được bơm qua máy ép bùn khuôn bản để loại bỏ nước. Bùn khô được lưu trữ tại nhà chứa bùn trong thời gian nhất định. Sau đó, bùn được các cơ quan chức năng thu gom và xử lý theo quy định.

Nước từ bể nén bùn và máy ép bùn theo đường ống chảy trở lại hố thu gom của trạm để tái xử lý.

Hệ thống xử lý nước thải hạt điều

Hãy liên lạc Công ty hóa chất công nghiệp Ngọc Lân để được tư vấn miễn phí hóa chất xử lý nước thải công nghệ xử lý mới nhất, hiện đại nhất, cùng nhiều loại hoá chất công nghiệp giá rẻ nhất trên thị trường, nếu quý khách có nhu cầu xây dựng hệ thống xử lý nước thải hạt điều.

Công ty Ngọc Lân chức bạn có một ngày làm việc vui vẻ !